Chi tiết câu hỏi :

Tôi đang thắc mắc về vấn đề hợp pháp hóa lãnh sự Giấy phép lái xe (GPLX) của nước ngoài cấp cho người Việt Nam trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp đổi GPLX nước ngoài. Cụ thể như sau:

– Điều 41.1.b Thông tư 12/2017/TT-BGTVT quy định về đào tạo, sát hạch, cấp GPLX cơ giới đường bộ (được sửa đổi bởi Điều 1.23 Thông tư 38/2019/TT-BGTVT) quy định thành phần hồ sơ đề nghị đổi GPLX của nước ngoài cấp cho người Việt Nam bao gồm bản dịch GPLX như sau:

“b) Bản dịch GPLX nước ngoài ra tiếng Việt được bảo chứng chất lượng dịch thuật của cơ quan công chứng hoặc Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam mà người dịch làm việc, đóng dấu giáp lai với bản sao GPLX; đối với người Việt Nam xuất trình hợp pháp hóa lãnh sự GPLX hoặc bằng lái xe của nước ngoài theo quy định của pháp luật về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, trừ các trường hợp được miễn trừ theo quy định của pháp luật”.

– Điều 6 Thông tư 01/2020/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định:

“Điều 6. Về yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự đối với một số giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp

Các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp cho cá nhân như hộ chiếu, thẻ căn cước, thẻ thường trú, thẻ cư trú, GPLX, bằng tốt nghiệp, chứng chỉ và bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp, chứng chỉ thì không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính. Trường hợp yêu cầu chứng thực chữ ký người dịch trên bản dịch các giấy tờ này cũng không phải hợp pháp hóa lãnh sự”.

Theo các quy định trên, tôi hiểu rằng GPLX do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp thuộc trường hợp không phải thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự. Như vậy, tại hồ sơ đề nghị đổi GPLX của nước ngoài cấp cho người Việt Nam, người đề nghị không phải nộp giấy tờ hợp pháp hóa lãnh sự GPLX nước ngoài, mà chỉ cần nộp bản dịch GPLX nước ngoài ra tiếng Việt được bảo chứng chất lượng dịch thuật của cơ quan công chứng hoặc Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam mà người dịch làm việc, đóng dấu giáp lai với bản sao GPLX.

Kính đề nghị Quý Cơ quan cho biết cách hiểu của tôi về vấn đề hợp pháp hóa lãnh sự GPLX nước ngoài như trên có đúng và phù hợp với quy định của pháp luật không?

Trả lời :

Cơ quan trả lời: Bộ Giao thông vận tải

Bộ Giao thông vận tải trả lời vấn đề này như sau:

Điều 6 Thông tư số 01/2020/TT-BTP hướng dẫn Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính. Theo đó, điều chỉnh đối với hoạt động chứng thực bản sao từ bản chính; chứng thực chữ ký.

Quy định người Việt Nam xuất trình hợp pháp hóa lãnh sự Giấy phép lái xe hoặc bằng lái xe của nước ngoài theo quy định của pháp luật về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, trừ các trường hợp được miễn trừ theo quy định của pháp luật, để bảo đảm tính thống nhất với quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự hợp pháp hóa lãnh sự: Để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam, các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 9 Nghị định.

Bài viết cùng chủ đề: